Ngày nay nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Malaysia, Mỹ... đã sản xuất nấm cùng các chế phẩm nấm linh chi làm thuốc và thực phẩm dưỡng sinh.

Cổ linh chi: Ngoài loài Ganoderma applanatum, các nhà phân loại thực vật đã phát hiện nhiều loài cổ linh chi khác như Ganoderma fulvellum, Gano-derma oregonense, Ganoderma tornatum, Ganoderma subtorna-tum v.v...

Thành phần hóa học: Cổ linh chi có acid Ganoderic. Các steroid Polysaccharid (GZ).
Tác dụng dược lý: Thí nghiệm trên chuột, Polysaccharid có tác dụng tăng sinh sản tế bào lách, kích thích hoạt động chống khối u sarcoma 180, liều cao 50mg/kg tăng tỷ lệ cản khối u tới 100%.

Thí nghiệm trên cừu: Polysaccharid có tác dụng tăng kháng thể nguyên thủy của tế bào lách và phản ứng lại tế bào máu.

Tác dụng lâm sàng: Tuy kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học, tác dụng dược lý khả quan như vậy, song nhiều người còn nghi ngờ về độc chất của các loài nấm lạ phát triển trên nấm cổ linh chi không kiểm soát được. Vì vậy chưa ai dám sử dụng cổ linh chi nghiên cứu chữa bệnh, giảm cân hiệu quả cho người.

Linh chi: Nghiên cứu các loài linh chi làm thuốc từ xưa đến nay người ta thấy có hàng trăm loài. Riêng loài linh chi Ganoderma lucidum (được gọi là linh chi chuẩn để làm giống phát triển sản xuất) cũng có hơn 45 thứ khác nhau. Các loài khác như Ganoderma japonicum; Ganoderma sinense v.v...

Trồng nấm linh chi: Nhờ công nghệ sinh học phát triển nên 30 năm gần đây con người đã trồng được nấm linh chi để đáp ứng nhu cầu dùng làm thuốc chữa bệnh và thực phẩm dưỡng sinh.

Ði đầu là các nhà khoa học Nhật Bản: Năm 1972 đã trồng thí nghiệm tác dụng của nấm linh chi đạt kết quả tốt. Sau đó là Hàn Quốc, Trung Quốc. Ở Việt Nam, Viện Dược liệu - Hà Nội đã trồng nấm linh chi (giống Trung Quốc) thành công vào năm 1978. Chín năm sau, năm 1987, các nhà khoa học thuộc Ðại học khoa học tự nhiên đã chọn được giống linh chi mọc hoang ở rừng núi Lâm Ðồng để nhân giống và đưa vào sản xuất tại trại trồng nấm linh chi của Xí nghiệp Dược phẩm TW 24, đạt kết quả tốt vào năm 1988.